Toàn quốc CÁC TRƯỜNG HỢP TRANH CHẤP DÂN SỰ KHÔNG TIẾN HÀNH HÒA GIẢI THEO LUẬT ĐỊNH

Thảo luận trong 'Giới thiệu dịch vụ & địa điểm' bắt đầu bởi Tư Vấn Luật Long Phan PMT, 8/6/26 lúc 10:20.

  1. Tư Vấn Luật Long Phan PMT

    Tư Vấn Luật Long Phan PMT Thành viên xây dựng 4rum

    Tham gia ngày:
    22/11/24
    Bài viết:
    302
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    241
    Trong quá trình giải quyết các mâu thuẫn về mặt dân sự tại cơ quan tài phán, không phải bất kỳ một vụ việc nào cũng bắt buộc phải trải qua giai đoạn hòa giải giữa các bên đương sự. Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành đã đưa ra những quy định mang tính phân loại vô cùng minh xích thành hai nhóm diện rộng: nhóm các vụ việc tuyệt đối không được phép tổ chức hòa giải dựa trên tính chất pháp lý đặc thù và nhóm các vụ án không thể tiến hành việc hòa giải xuất phát từ các trở ngại mang tính chủ quan hay khách quan từ chính các chủ thể tham gia tố tụng. Việc thấu hiểu và phân định một cách chuẩn xác hai nhóm trường hợp này đóng vai trò nền tảng giúp cho các đương sự có thể lựa chọn chính xác căn cứ pháp lý phù hợp khi soạn thảo và nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền không thực hiện thủ tục hòa giải. Trong trường hợp người khởi kiện hoặc người bị kiện viện dẫn sai lệch giữa các nhóm lý do này, phía Tòa án vẫn có đầy đủ thẩm quyền để tiếp tục duy trì các bước trong thủ tục hòa giải theo quy định chung hoặc sẽ đưa ra văn bản yêu cầu các bên phải làm sáng tỏ, giải trình cụ thể về lý do đưa ra đề nghị của mình.

    Các Trường Hợp Vụ Án Dân Sự Tuyệt Đối Không Được Hòa Giải
    Đối với nhóm các vụ việc thuộc trường hợp này, việc có tiến hành thủ tục hòa giải hay không hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí nguyện vọng, sự đồng thuận hay phản đối của các bên đương sự trong vụ án. Ngay khi nhận thấy vụ việc dân sự được thụ lý hoặc xem xét thuộc vào các trường hợp mà pháp luật nghiêm cấm hoặc loại trừ việc hòa giải, cơ quan Tòa án bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt và xử lý hồ sơ theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng chuyên biệt đã được định sẵn. Quy định mang tính ngoại lệ bắt buộc này được xây dựng lên nhằm mục đích tối thượng là bảo vệ an toàn cho trật tự công cộng, bảo vệ các giá trị đạo đức nền tảng cũng như bảo toàn lợi ích cốt lõi của Nhà nước.

    • Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đối với tài sản công thuộc sở hữu của Nhà nước: Các vụ việc dân sự có nội dung tranh chấp liên quan đến việc yêu cầu bồi thường do các hành vi xâm phạm, gây tổn thất, hư hỏng đến các loại tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước sẽ hoàn toàn không được áp dụng cơ chế hòa giải, đối thoại ở giai đoạn tiền tố tụng. Dựa trên cơ sở pháp lý quy định tại Khoản 1 Điều 19 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020, đây được xác định là một trong những trường hợp điển hình nằm trong nhóm 07 trường hợp đặc biệt không tiến hành hòa giải, đối thoại tại cơ quan Tòa án.

    • Giao dịch dân sự vi phạm các điều cấm của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội: Những vụ việc tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng, sự thỏa thuận hay giao dịch dân sự mà nội dung hoặc mục đích của chúng chứa đựng các yếu tố vi phạm vào điều cấm của luật hoặc có sự đi ngược lại với các chuẩn mực đạo đức của xã hội thì cũng hoàn toàn không thuộc diện được phép hòa giải, đối thoại. Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 19 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020, sự tự nguyện hay ý chí thỏa thuận mang tính chủ quan của các bên đương sự đều không thể làm thay đổi hay xóa bỏ được bản chất pháp lý vốn đã bất hợp pháp của giao dịch đó.

    • Quy định cấm hòa giải đối với các vụ án dân sự đã được thụ lý chính thức: Khi một vụ án dân sự đã bước vào giai đoạn thụ lý chính thức để chuẩn bị xét xử, cơ quan Tòa án cũng sẽ kiên quyết không thực hiện thủ tục hòa giải đối với các tranh chấp về đòi bồi thường tổn thất tài sản Nhà nước và các giao dịch dân sự vi phạm các điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Nội dung nguyên tắc mang tính bắt buộc này đã được ghi nhận và xác lập một cách rõ ràng tại Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
    Chính vì những lẽ đó, đối với nhóm các trường hợp ngoại lệ mang tính bắt buộc do pháp luật quy định như trên, việc đương sự làm đơn đề nghị không tiến hành thủ tục hòa giải về mặt bản chất chỉ mang ý nghĩa bổ sung và củng cố thêm tính chặt chẽ cho hồ sơ vụ án. Căn cứ cốt lõi và tối cao để đưa ra quyết định tố tụng của Thẩm phán vẫn phải dựa hoàn toàn vào bản chất, đặc điểm pháp lý của chính vụ việc đó theo đúng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

    Các Trường Hợp Không Tiến Hành Hòa Giải Được Do Trở Ngại Từ Đương Sự
    Đây là nhóm các trường hợp diễn ra vô cùng phổ biến và xuất hiện với tần suất dày đặc trong hoạt động tố tụng trên thực tế, đặc biệt là trong các bối cảnh mà phía người bị kiện (bị đơn) cố tình tìm mọi cách trốn tránh, vắng mặt không có lý do nhằm kéo dài tối đa thời gian giải quyết vụ án của Tòa án. Cơ quan tiến hành tố tụng cần phải thu thập và xác minh được các căn cứ, tài liệu rõ ràng, xác thực trước khi đưa ra văn bản xác định vụ án dân sự thuộc trường hợp không thể thực hiện việc hòa giải. Do đó, các đương sự khi rơi vào các hoàn cảnh này cần chủ động trình bày cụ thể, chi tiết các lý do của mình, đồng thời đính kèm theo các tài liệu, chứng cứ hợp pháp để chứng minh cho lời trình bày đó.

    Sự Vắng Mặt Của Đương Sự Sau Khi Đã Được Triệu Tập Hợp Lệ Đến Lần Thứ Hai
    Việc người bị kiện hoặc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án liên tục vắng mặt tại các phiên hòa giải sau khi cơ quan Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt, triệu tập hợp pháp đến lần thứ hai chính là một căn cứ pháp lý cực kỳ quan trọng để quyết định không tiếp tục tổ chức hòa giải. Đối chiếu với nội dung tại Khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nếu các chủ thể có tư cách tố tụng nêu trên vẫn tiếp tục cố ý không có mặt mà không có lý do, vụ án sẽ ngay lập tức được xếp vào trường hợp không tiến hành hòa giải được để chuyển sang các bước tiếp theo.

    Đương Sự Không Thể Tham Gia Phiên Hòa Giải Vì Những Lý Do Chính Đáng
    Trong trường hợp các bên đương sự thực sự không có khả năng tham gia vào phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải do gặp phải các trở ngại khách quan hoặc lý do chính đáng thì Tòa án sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý để không tổ chức phiên hòa giải đó nữa. Căn cứ theo tinh thần của Khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các lý do chính đáng này bắt buộc phải được người có liên quan thể hiện một cách minh bạch, rõ ràng trong đơn giải trình hoặc thông qua các tài liệu, văn bản minh chứng đi kèm.

    Một Trong Hai Bên Vợ Hoặc Chồng Bị Mất Năng Lực Hành Vi Dân Sự Trong Vụ Án Ly Hôn
    Khi giải quyết các vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình mà cụ thể là yêu cầu ly hôn, nếu một bên là người vợ hoặc người chồng đã bị Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì việc tiến hành các thủ tục hòa giải đoàn tụ hay thỏa thuận phân chia sẽ không còn bảo đảm tính phù hợp và đúng đắn nữa. Chiếu theo quy định tại Khoản 3 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tình huống này được xem là một căn cứ độc lập và tuyệt đối để cơ quan xét xử xác định vụ án hôn nhân này thuộc diện không tiến hành hòa giải được.

    Có Đơn Đề Nghị Không Tiến Hành Thủ Tục Hòa Giải Từ Một Trong Các Đương Sự
    Khi có bất kỳ một bên đương sự nào chủ động bày tỏ nguyện vọng và đưa ra yêu cầu bằng văn bản một cách rõ ràng về việc không muốn tham gia hòa giải, Tòa án sẽ có đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc để xem xét và quyết định chấm dứt việc tổ chức thủ tục hòa giải giữa các bên. Theo quy định cụ thể tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quyền cấu thành việc đề nghị này chính thức nằm trong nhóm 04 trường hợp cụ thể khiến vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được.

    Nhìn chung, trong các hoạt động tố tụng thực tế tại Tòa án, căn cứ liên quan đến việc đương sự vắng mặt từ lần triệu tập thứ hai trở đi luôn đòi hỏi phải được gắn liền một cách chặt chẽ với hệ thống hồ sơ tống đạt, giấy báo nhận, biên bản xác minh làm việc của Thư ký Tòa án cùng các tài liệu tố tụng khác nhằm chứng minh một cách khách quan về hành vi không hợp tác của đương sự.

    Pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Việt Nam đã quy định rất rõ ràng hai nhóm trường hợp tranh chấp không tiến hành hòa giải, bao gồm nhóm bắt buộc không được hòa giải (đòi bồi thường tài sản Nhà nước, giao dịch vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức) và nhóm không thể hòa giải do trở ngại từ phía đương sự (vắng mặt hai lần, có lý do chính đáng, mất năng lực hành vi trong vụ án ly hôn, hoặc có đơn đề nghị không hòa giải). Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
     
    Muốn bài này được xem nhiều hơn? Click để sử dụng Dịch vụ Đẩy tin
    Quảng cáo Đồng Nai Không spam

Chia sẻ trang này